Anh còn hơi thở là còn yêu em


       Ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu thời trẻ (Ảnh TL)

Chỉ ít ngày nữa là đến tết Nguyên đán Đinh Dậu 1957, nhưng Sài Gòn vẫn mang bầu không khí tịch mịch bao trùm. Dưới gốc cây bồ đề, vẫn chiếc bàn con giản dị và leo lét ánh đèn, nhưng thay vì sách vở và người thiếu nữ cặm cụi học bài, là trên bàn có đĩa trái cây, bánh ngọt mừng tất niên sớm của ba học sinh lớp đệ tam, Trường Văn Lang là: Lê Hồng Tư, Nguyễn Thị Châu, Lê Mỹ Lệ. Hết chuyện trường, chuyện lớp, chuyện bài vở, Lê Hồng Tư - thành viên nam duy nhất và lớn tuổi nhất trong nhóm đề nghị:


Ai đó từng nói rằng, có hai chuyện con người ta khó giấu được là khi say và khi yêu. Trường hợp của Lê Hồng Tư, Nguyễn Thị Châu cũng không ngoại lệ. Phút lúng túng, ánh mắt yêu thương thoáng trao của hai người yêu nhau trong những buổi sinh hoạt ngoại khóa, những chuyến thăm cô nhi viện cùng tập thể lớp đã không nằm ngoài "tầm quan sát" của bạn bè đồng trang lứa. Đặc biệt là người bạn, người đồng chí luôn sát cánh bên họ - Lê Mỹ Lệ.

Năm 1958, Lê Hồng Tư buộc phải chuyển trường theo yêu cầu công tác. Loay hoay mãi, anh vẫn không tìm được người đủ độ tin cậy, để thay mình ở lại lãnh đạo phong trào trường Văn Lang, trừ Châu. Dù biết gia đình người mình yêu thương rất nghèo. Chị đi học còn phải nhờ vào đồng tiền nhịn hút thuốc của người chú ruột, kèm theo bản cam kết với gia đình: “Học xong phải kiếm việc làm nuôi các em...”. Thế nhưng anh vẫn phải nén lòng chọn chị. Được chọn, nghĩa là Nguyễn Thị Châu buộc phải tìm cách ở lại trường. Cái cớ hợp lý nhất để chị ở lại là... thi trượt. Cuộc đấu tranh ngày càng phức tạp. Trong khi Hồng Tư mải miết theo công tác thì những lá thư tỏ tình với Châu cũng nhiều thêm theo năm tháng. Thư của người thuộc thành phần đối lập có, của người có cảm tình với cách mạng cũng không ít. Người lên tiếng động viên, cảnh báo anh:

-Nếu không "nhanh tay", e rằng Châu sẽ thuộc về người khác...

Người cảnh báo cho anh không phải ai khác ngoài cô bạn gái của hai người là Mỹ Lệ.

Tuy nhiên, phải khá lâu sau, cơ hội mới đến. Đó là một chiều thứ bảy, Lê Hồng Tư có việc phải trở về cơ sở - phòng trọ học của Nguyễn Thị Châu. Trời mưa rả rích. Trao đổi công việc xong, anh mới xa gần, lựa lời đề cập đến chuyện tình cảm. Lời từ chối thẳng thừng của Châu khiến kẻ mới yêu lần đầu chết lặng. Quay lên gác, anh vẫn cố lén nhìn xuống, chờ đợi một phần trăm cơ may thay đổi. Hình ảnh người con gái vẫn bình thản cặm cụi với những bài toán đại số, ngay sau khi mình tỏ tình khiến lòng anh quặn thắt. Hồng Tư không hề biết rằng, sau vẻ lạnh lùng ấy, lòng chị cũng đang bối rối:

-Nếu nhận lời yêu anh, có thể sẽ đi đến kết hôn, sẽ phải phụ lời cam kết với gia đình trước khi đi học, nhiệm vụ với cách mạng lại chưa tròn...

Mặc dù đề nghị cứ 6 tháng sẽ "hỏi lại ý kiến" của Châu một lần, nhưng một phần vì yêu cầu bảo mật công tác, phần vì sợ tái diễn vết thương lòng, nên Hồng Tư chưa dám hỏi lại. Phải đến hè năm 1960, trước khi đi công tác xa, Lê Hồng Tư mới có dịp hẹn gặp Châu để trao đổi, giới thiệu người thay thế mới. Khi ấy, tình hình hết sức căng thẳng. Theo nguyên tắc, nếu người nào trễ hẹn 10 phút, thì người còn lại buộc phải di tản. 5 phút rồi 10 phút trôi qua, Hồng Tư vẫn không thấy bóng dáng quen thuộc của Châu. Thất vọng, anh lầm lũi quay xe về. Đến giữa cầu Bình Tây, anh thấy chị đang đi hối hả. Châu bị trễ xe buýt. Biết anh chuẩn bị ra cứ, chị chuẩn bị sẵn một gói quà. Về nhà, mở ra, Lê Hồng Tư mới biết là chiếc khăn mặt, 2 chiếc quần đùi và 200 đồng. Anh xúc động lắm. Gắn bó công tác với chị đã lâu nên anh biết hoàn cảnh chị rất khó khăn. Để có được 200 đồng này, chắc chắn Châu phải tiết kiệm rất nhiều.

Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm lần 1, ngày 11 tháng 11 năm 1960, cơ sở đứt đường dây liên lạc, tổ chức giao Lê Hồng Tư nối lại. Thêm một lần nữa, anh có dịp hẹn gặp Nguyễn Thị Châu. Lời tỏ tình chưa có câu trả lời thì xe đã lăn bánh, anh chỉ kịp nói với theo:

-Còn sống trên trái đất này, anh còn giữ lời đề nghị thành hôn với em!

Ngày 9 tháng 2 năm 1961, Nguyễn Thị Châu bị địch bắt, sau khi chuyển xong tài liệu cho cơ sở. Vào trại Lê Văn Duyệt, chúng ra sức dụ dỗ, mua chuộc nhưng không lay chuyển được cô nữ sinh bé nhỏ, địch chuyển qua tra tấn. Hết luân chuyển chị qua Quân lao Gia Định, hầm khói Thủ Đức, hầm tối P.42, cấm cố trong xà lim nhà tù Phú Lợi rồi lại quay trở về Tổng Nha, sau đủ các ngón đòn: tàu bay, tàu lặn, đóng đinh 10 đầu ngón tay... nhưng chị vẫn một mực trung kiên. Chị thầm hứa: Phải sống xứng đáng với Đảng, cách mạng và xứng đáng với những gì anh dành cho chị. Nguyễn Thị Châu lấy cặp tóc vạch lên tường nhà lao bốn câu thơ:

“Áo trắng em chưa vướng bụi đời

Chưa từng mơ tưởng chuyện xa xôi

Nhưng nay gặp cảnh đời chua xót

Áo trắng này nguyện trắng mãi thôi”...

Được tổ chức, đồng đội tín nhiệm, Nguyễn Thị Châu được kết nạp Đảng, trở thành Chi ủy viên chi bộ Đảng ngay trong trại Lê Văn Duyệt. Các thông tin về hoạt động đấu tranh bên ngoài, cũng được gửi đến cho anh chị em qua đường dây liên lạc bí mật. Chị càng tự hào về Lê Hồng Tư khi được biết người mình yêu cùng đồng đội, tiến hành hàng loạt các hoạt động gây thiệt hại nặng nề, gieo nỗi sợ hãi, hoang mang cho địch. Tuy nhiên, sau vụ tổ chức đánh bom không thành vào xe đại sứ Mỹ ngày 8 tháng 7 năm 1961, địch điên cuồng lùng sục. Lê Hồng Tư và rất nhiều đồng đội khác bị bắt, bị tra tấn. Để khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng, ngày 23 tháng 5 năm 1962, Tòa Quân sự Sài Gòn mở phiên tòa xét xử đặc biệt. Lê Hồng Tư và 5 đồng đội khác bị kết án tử hình.

Nhận được tin dữ, lòng Nguyễn Thị Châu tan nát nhưng không dám khóc. Chị lo địch nghi ngờ, phát hiện đường dây thông tin bí mật. Chị càng căm giận kẻ thù, càng lo lắng, thì những ký ức về anh, tiếng nói còn vọng theo chuyến xe ngày anh tiễn chị đi hơn một năm trước lại hiện về. Không nén được lòng mình, Châu quyết định thông qua tổ chức, nhắn tin mình là vị hôn thê của Hồng Tư. Ngay lập tức, mối tình đặc biệt xúc động và kỳ lạ của họ được lan truyền khắp trong và ngoài các nhà lao, trở thành nguồn cảm hứng sáng tác của không ít tác phẩm văn, thơ. Tuy nhiên, phải mất bốn năm sau, tin vui này mới chuyển được đến đúng địa chỉ. Sau bao năm chịu mọi cực hình đòn roi, tra tấn, chứng kiến vô số các thảm cảnh bởi sự tàn độc của những cai ngục hung thần, Lê Hồng Tư ngỡ trái tim mình hóa đá. Thế nhưng, nhận tin chị, anh đã khóc. Khóc vì hạnh phúc, khóc vì cảm động. Niềm mong đợi bao năm nay trở thành sự thật. Điều quý nhất là chị vẫn quyết định dành trọn tình yêu cho anh ngay cả khi biết anh đang mang bản án tử hình. Anh làm bốn câu thơ nồng nàn cho chị:

Dù khi tắt lửa tối trời

Vững vàng quyết sống, không rời lòng son

Còn trời, còn nước, còn non

Anh còn hơi thở là còn yêu em...”.

Trước sức ép của phong trào đấu tranh, không tìm được lý do để khép tội, cuối năm 1964, địch buộc phải trả tự do cho Nguyễn Thị Châu. Ra tù, chị tiếp tục móc nối liên lạc, tham gia hoạt động cách mạng và cập nhật tin tức của Hồng Tư  cùng các đồng đội ngoài Côn Đảo, theo mọi con đường mà chị có thể tìm hiểu được. Tin chính xác có, tin không chính xác cũng có. Đã không ít lần, tin báo anh hy sinh, nhưng không hiểu sao chị vẫn luôn tin anh vẫn còn sống, nhất định trở về.  

Ngày 7 tháng 5 năm 1975, niềm tin ấy trở thành sự thật. Lê Hồng Tư cùng đồng đội trở về đất liền, giữa vòng tay yêu thương, sự chào đón nồng nhiệt của đồng chí, đồng bào. Lúc này, Nguyễn Thị Châu là Chủ tịch Quận 10. Nhận tin Lê Hồng Tư khá sớm nhưng trước mắt chị là cả núi công việc của một địa phương mới giải phóng đang cần giải quyết. Chỉ khi cuộc họp cuối cùng chấm dứt, sau 24 giờ đêm, chị mới có điều kiện đến đón anh.

Ông Lê Hồng Tư và bà Nguyễn Thị Châu trong ngày cưới (Ảnh TL)

Một đám cưới cách mạng, giản dị nhưng đặc biệt vui vẻ, ấm áp với số khách tham dự gấp ba lần khách mời dự kiến, là một cái kết hoàn toàn có hậu cho mối tình đẹp như huyền thoại của họ. Vì những di chứng sau nhiều năm liên tục chịu sự tra tấn của kẻ thù, phải mất hai năm sau, tình yêu ấy mới khai hoa nở nhụy. Cậu bé Lê Nguyễn Hồng Quang cất tiếng khóc chào đời. Trước khi nghỉ hưu, chị Nguyễn Thị Châu là Chủ nhiệm Ủy ban Chăm sóc và Bảo vệ trẻ em thành phố, còn anh Lê Hồng Tư là Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh.

                        Tô Kiều (tổng hợp)