Theo sách họ Tô Việt Nam, ở Văn Giang có nhiều chi họ Tô khác nhau. Tuy nhiên, các chi họ Tô ở xã Nghĩa Trụ (trước đây là Tổng Xuân Cầu) tồn tại lâu đời nhất. Ngày nay, họ Tô ở xã Nghĩa Trụ tập trung đông nhất ở thôn Tam Kỳ với khoảng 10 chi: Chi họ Tô cụ Đốc Nam, chi họ Tô cụ Đốc Đông, chi họ Tô Xuân, chi họ Tô Trân, chi họ Tô cụ Đám Ký... Ngoài ra, xã Nghĩa Trụ còn các chi họ Tô ở thôn Phúc Thọ, thôn Đồng Tỉnh, thôn Đại Tài.

Họ Tô thị trấn Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang có nguồn gốc từ miến Bắc cư vào miền Nam năm 1954. Mặc dù chuyển vào miền Tây Nam Bộ sinh sống đã lâu, nhưng giọng nói và nếp sống sinh hoạt vẫn hoàn toàn giữ đúng chất Bắc.

Quê gốc của Họ Tô thị trấn Tân Hiệp là làng Các Đông, tổng Bích Du, huyện Thái Ninh, tỉnh Thái Bình, nay là làng Các Đông, xã Thái Thượng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Thủy tổ của Họ Tô ở đây là Tô Đức Bô và Tổ bà là Phạm Thị Mến. ...

Tổ quán họ Tô xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, vùng đất ngày xưa là làng Bình Lý, tổng Bình Thạnh Trung, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định, một trong Nam Kỳ lục tỉnh. Làng Bình Lý xưa có 8 ấp trong đó có ấp Bình Đông, nay là ấp 3, xã Đông Thạnh. Bình Lý có giai đoạn gọi trại đi là Bình Lái vì kỵ húy ông Cai tổng tên là Lý. Năm 1940, chính quyền Pháp sát nhập 3 làng Tân Mỹ, Bình Lý, Mỹ Bình thành làng Bình Tân. Sau năm 1958 chính quyền Sài Gòn đổi thành xã Bình Mỹ thuộc tỉnh Bình Dương. Sau ngày giải phòng năm 1975 xã Bình Mỹ, thuộc huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh cho đến ngày nay.
Theo gia phả họ Tô Phúc Trực do tiến sỹ Tô Trân viết năm Canh Tý 1840, Thủy tổ chi họ là Tô Phúc Trực người thôn Tam Kỳ, xã Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (trước gọi là trấn Kinh Bắc).
Cụ tổ Tô Phúc Tần, sinh năm 1675, vào khoảng cuối thế kỷ XVII từ trấn Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh) lên lập nghiệp, dạy học (thầy đồ chữ Nho) và lấy vợ người dân tộc Tày tại xóm Đồng Chúp, xã Hưng Đạo, nay là phường Thục Phán, tỉnh Cao Bằng. Đến nay đã hơn 330 năm, hậu duệ tiếp nối đến hiện tại có 11 đời.
Họ Tô Tú Đoạn, Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn khá đông, sống ở các nơi Tam Gia, Tĩnh Bắc, Sàn Viên, Lợi Bác, Nam Quan, Tú Đoạn. Riêng ở Tú Đoạn tập trung ở hai bản là Bản Quấn và Bản Tấu.
Năm 1947, quân Pháp chiếm đóng An Sơn, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Chúng xây đồn bốt, tàn phá đình làng và nhà dân, gia phả bị mất nên đến nay, con cháu cũng không biết Thủy tổ của chi họ tên là gì, từ đâu đến định cư. Theo lời truyền lại và tính theo số đời thì cụ đến An Sơn vào khoảng những năm 80, thế kỷ 18
Thủy tổ tên là Tô Tâm, không biết từ đâu đến định cư ở thị xã Sông Cầu và đến từ bao giờ. Chi họ từ Thủy tổ đến nay đã đến đời thứ 7, nên phán đoán ông Tổ đã đến Sông Cầu khoảng 200 năm. Thời gian này tương tự như các chi họ khác tại tỉnh Đắc Lắc, đều từ Gia Lai vào, nên có thể ông Tổ Họ Tô thị xã Sông Cầu cũng từ Gai Lai vào.
Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ 19, tại làng An Phước, Mỹ Phước, Thị xã Bến Cát, thành phố Hồ Chí Minh, có một cặp vợ chồng Họ Phạm sinh được một người con trai. Người chồng mất sớm ngay khi đứa con trai mới chào đời. Người vợ trẻ với đứa con thơ may mắn được một người Họ Tô (có lẽ gốc miền Trung hoặc miền Bắc) mang về nuôi dưỡng, đặt tên là Tô Văn Út và không sinh thêm người con nào khác. Người Họ Tô này được xem là Thủy tổ của Họ Tô Bến Cát (đời thứ nhất).
Cụ Tổ của chi Họ Tô thị trấn Núi Sập, Thoại Sơn, tỉnh An Giang là người Triều Châu, Trung Quốc, chạy sang Việt Nam sau thất bại của phong trào phản Thanh – phục Minh, về định cư ở thị trấn Núi Sập đã hơn 200 năm. Nay chi họ phát triển đến đời thứ 8 với khoảng 60 hộ với khoảng 300 nhân khẩu. Có chừng 20 hộ đi công tác, làm ăn ở các tỉnh miền Tây và Thành phố Hồ Chí Minh.