CỤ TIẾN SĨ TÔ TRÂN

  Gia phả họ Tô Phúc Trực do cụ Tô Trân viết năm Canh Tý (1840) đã nói rõ cội nguồn của Cụ:

  Thúy tổ chi họ là Tô Phúc Trực, người thôn Tam Kỳ, xã Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nay là thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

  Đời 1: Tô Phúc Trực.

  Đời 2: Tô Phúc Thành.

  Đời 3: Tô Phúc Lạc.

  Ông Tô Phúc Lạc không có con trai, chỉ sinh một con gái là Từ Thuận. Bà Từ Thuận lấy chồng họ Quản là Quản Nhã Thực. Ông Tô Phúc Lạc có giao ước với ông thông gia là: nếu ông Quản Nhã Thực và bà Từ Thuận sinh được hai con trai thì phải cho một người về thừa tự Họ Tô.

 Bà Từ Thuận sinh được hai con trai đã cho người con thứ là Quản Đình Tuyển về thừa tự Họ Tô thành đời 4 họ Tô Phúc Trực, mang họ tên là Tô Đình Tuyển. Ông Tô Đình Tuyển sinh được hai con trai:

 Con cả là Tô Hiệu, tự Khâm Phủ.

 Con thứ là Tô Trân hiệu là Ngọc Giang.

  Cụ Tô Trân là đời 5 họ Tô Phúc Trực, sinh năm Tân Hợi (1791) dưới triều Tây Sơn. Năm Ất Dậu (1825) khi đã 35 tuổi, Cụ mới đỗ Cử nhân. Năm sau thi Hội, thi Đình, khoa Bính Tuất (1826) niên hiệu Minh Mệnh thứ bẩy, Cụ đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.

 Sau đó Cụ được bổ làm Hàn lâm viện biên tu (một chức quan làm nhiệm vụ biên soạn, tu chỉnh các văn bản của triều đình). Sau được thăng bổ Tuần phủ Định Tường là tỉnh xung yếu ở biên giới phía Nam, phải thường xuyên đối phó với sự quấy nhiễu, xâm phạm của nước Chân Lạp. Lúc Lê Văn Khôi nổi loạn (1835-1836), Cụ không dẹp được nên bị cách chức Tuần phủ Định Tường, rồi điều đi làm Án sát Thái Nguyên. Năm Thiệu Trị thứ hai(1842), Cụ được sung chức Toản tu Quốc sử quán. Đến năm Tự Đức nguyên niên (1848), thăng Tả Tham tri bộ Lễ, vẫn làm việc ở Quốc sử quán và đặc biệt kiêm thêm nhiệm vụ “Nhật giảng quan ở Kinh Diên”.

 Đánh giá về đức độ của Cụ, Đại Nam liệt truyện ghi sáu chữ: Thanh Liêm, Tiết Nghĩa, Nghiêm Chỉnh. Điều đó chứng tỏ hoạn lộ có lúc thăng trầm nhưng thanh danh của Cụ vẫn chói lọi. Nhưng sự nghiệp lớn lao nhất mà Cụ để lại cho hậu thế là các công trình sử học như “Minh Mạng chính yếu”, “Đại Nam thực lục” (bộ sách viết chung). Có lẽ tâm nguyện của cụ Tô Trân suốt đời làm quan là nghiên cứu lịch sử. Và có thể chính điều này đã khiến cho người con của Cụ là Cử nhân Tô Đăng nối gót cha để lại những đóng góp cho đời. Tô Đăng cũng làm quan đến chức Thị độc học sĩ, Toản tu Quốc sử quán triều Nguyễn.

 Đối với Họ Tô, Cụ đã có một việc làm đầy ân nghĩa. Một số cháu chắt của Cụ muốn xin Cụ để trở lại Họ Quản. Cụ đã nghiêm khắc căn dặn cháu chắt: Ông cha ta đã thờ Họ Tô, thì con cháu từ nay về sau vẫn phải thờ Họ Tô, không được phép nghĩ đến việc quay lại Họ Quản. Chúng ta đều mang hai dòng máu Họ Tô và Họ Quản. Chúng ta thờ Họ Tô nhưng vẫn giữ mối quan hệ thân thiết với Họ Quản. Đó là đạo nghĩa, là việc nên làm.

 Nếu lúc đó Cụ nghe theo lời cháu chắt trở lại Họ Quản thì đến nay chúng ta không còn họ Tô Phúc Trực của làng Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã đến đời 15, sinh ra những người con ưu tú:

  -Cụ Tô Gĩ tức Lê Giản, đời 10 họ Tô Phúc Trực, là cán bộ lão thành cách mạng, tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm cùng 3 người anh họ ngoại Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Quang Đẩu. Sau cách mạng tháng Tám 1945, Cụ được cử giữ chức Phó Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Kỳ, rồi được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha Công an Việt Nam như chức Bộ trưởng Bộ Công an ngày nay. Cụ đã có công xây dựng Ban liên lạc Họ Tô Việt Nam, làm Trưởng ban lâm thời, sau là Trưởng ban danh dự Ban liên lạc (nay là Hội đồng) Họ Tô Việt Nam.

 -Các con của cụ Tô Gĩ là Tô Linh, Tô Thị Minh Thông đều là Tiến sĩ được phong hàm Giáo sư, Phó Giáo sư.

 -Tô Quốc Ân đời 11 sinh năm 1953, Thiếu tướng Tổng cục Hậu cần Bộ Công an,

 Hiện nay cùng với việc xây nhà thờ Tổ, trong đó có tượng đồng cụ Tô Gĩ; họ Tô Phúc Trực đã xây nhà thờ riêng thờ Tiến sĩ Tô Trân.

                                                                    Tô Bỉnh

  Ghi chú: Bài viết có sử dụng một số tư liệu của Phạm Hy Tùng, Vũ Hiệp.