
Tô Gĩ sinh ngày 2 tháng 8 năm 1913 trong một gia đình khoa bảng cương trực, khảng khái, liêm khiết tại làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Tổ tiên ông nguyên là họ Quản: Quản Đình Tuyển. Ông Quản Đình Tuyển là cháu ngoại ông Tô Phúc Lạc, đời 3 họ Tô Phúc Trực, làng Xuân Cầu. Ông Tô Phúc Lạc không có con trai nên theo lời giao ước giữa hai gia đình thông gia, ông Quản Đình Tuyển về thừa tự Họ Tô mang tên Tô Đình Tuyển là đời 4 họ Tô Phúc Trực. Ông Tô Gĩ là đời 10 họ Tô Phúc Trực. Ông là cháu đời thứ 6 của vị Tiến sĩ Nho học nổi tiếng Tô Trân.
Thân mẫu ông là bà Nguyễn Thị Cự, buôn bán nhỏ ở chợ làng. Không may bị ngộ độc, lâm bệnh nặng qua đời. Khi đó em gái ông mới 8 tháng tuổi, ốm đau quặt quẹo đã phải rời vú mẹ. Cha ông buồn phiền vì sớm góa vợ, cuộc sống thêm túng bấn khó khăn. Tuổi ấu thơ hạnh phúc của Tô Gĩ ở quê cũng chấm dứt từ đám tang này.
Từ 1922 đến 1925, Tô Gĩ được cha gửi ra nhà ông chú (em ông nội) Tô Phong ở phố Hàng Gai, vừa đi học, vừa giúp việc vặt trong nhà. Từ 1926 đến 1930, ông chuyển đền nhà chú ruột Tô Chử ở phố Hàng Vôi. Năm 1929 thi không đỗ vào trường Sư phạm, Tô Gĩ thôi học, xin làm thư ký cho một hãng buôn.
Thời gian học ở Hà Nội, sớm được giác ngộ cách mạng, ông tham gia Học sinh đoàn và Đoàn Thanh niên xích vệ đội. Ông tham gia bãi khóa, đòi trả tự do cho cụ Phan Bội Châu; vận động để tang, làm lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Ông còn tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, treo cờ, phát truyền đơn, giăng biểu ngữ vào dịp những ngày lễ như 1-5 hoặc 7-11. Được giao nhiệm vụ bảo vệ những cuộc mít tinh, biểu tình; bảo vệ các cán bộ cao cấp của Đảng. Tháng 6-1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, sau là Đảng Cộng sản Đông Dương.
Tháng 7-1930, ông xin phép tổ chức Đảng cho vào Sài Gòn hoạt động. Ở đây, ông liên lạc với mấy người anh họ Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Điển để cùng hoạt động.
Làm việc tại tòa báo Trung Lập được một thời gian; đầu năm 1931, ông xin làm phụ bếp dưới tầu biển Jean Dupuis chuyên chở hàng dọc ven biển đi Singapore hoặc đi Hồng Kông. Tháng 5-1931, ông bị chủ tầu buộc thôi việc vì nghi ông tham gia “hội kín”. Rời tầu lên bến cảng Hải Phòng trở về quê Xuân Cầu, ông bị bắt lên tỉnh Bắc Ninh rồi bị giam ở Sở mật thám Hà Nội (7-1931). Không khai thác được điều gì ở ông, Pháp phải thả ông về quản thúc ở quê.
Năm 1932, Tô Gĩ lập gia đình, cưới bà Nguyễn Thị Chế ở thôn Tam Kỳ, cùng xã Nghĩa Trụ. Sau khi cưới, vợ chồng ông xuống sinh sống ở Hải Phòng, nơi có nhiều bà con Xuân Cầu sinh cơ lập nghiệp. Bà buôn bán nhỏ, ông vừa dạy học vừa làm báo và hoạt động cách mạng, khi bán công khai, khi bí mật. Nhà ông là nơi qua lại của nhiều cán bộ cách mạng như Tô Hiệu, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Văn Linh, Bùi Đình Bổng…
Năm 1938,1939 khi Mặt trận Bình dân ở Pháp đổ vỡ, bọn mật thám Pháp lại theo dõi sát sao hoạt động của những người cộng sản. Thỉnh thoảng chúng lại bắt giam ông vài ba ngày. Nhiều đồng chí của ông bị bắt. Tháng 4-1940, ông bị bắt giam ở căng (camp: nhà tù) Bắc Mê, Hà Giang. Đầu tháng 11 năm ấy, ông bị chuyển lên nhà tù Sơn La. Ở đây, ông được gặp lại Tô Hiệu khi đó là Bí thư chi bộ nhà tù và nhiều đảng viên cộng sản như Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Khang, Xuân Thủy, Hoàng Tùng…
Tháng 6-1941, ông bị đày sang đảo Madagascar là thuộc địa của Pháp ở châu Phi. Cùng ở đây với ông có các đồng chí Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam), Vũ Văn Địch, Nguyễn Văn Ngọc, Hoàng Đình Rong, Dương Công Hoạt, Nguyễn Văn Phòng.
Tháng 6-1943, quân đội Anh chiếm đóng đảo Madagascar, trả tự do cho những người tù chính trị ở đây. Tô Gĩ là một trong ba đảng viên cộng sản được về Ấn Độ sớm nhất và được quân đội Đồng Minh mời làm việc cho họ ở các đài phát thanh như New Delhi (Ấn Độ), Sydney (Úc) hoặc San - Francisco (Mỹ). Ông và các đồng chí của ông một mực xin được trở về nước chống phát xít Nhật, đồng thời nhận bất cứ việc gì có ích cho các nước Đồng Minh. Cuối cùng phía họ đã chấp nhận yêu cầu nói trên và huấn luyện cho các ông về nghiệp vụ tình báo, về sử dụng vũ khí và các thiết bị thông tin cần thiết cho một điệp viên. Ông cũng được tập nhẩy dù ở vùng rừng núi.
Tháng 8-1944, Tô Gĩ và Hoàng Đình Rong được bay từ Calcutta (Ấn Độ) về nước chuyến bay đầu tiên. Nhẩy dù xuống Cao Bằng, ông đã liên lạc được với tổ chức Đảng và Mặt trận Việt Minh ở chiến khu Việt Bắc.
Ông được phân công trực tiếp chiến đấu, tham gia xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền giải phóng quân, mở lớp Quân chính khóa I, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Thời gian ở chiến khu, ông mang bí danh Lê Giản và Lê Giản đã trở thành tên ông trong suốt cuộc đời.
Sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, Bác Hồ đã giao cho các ông Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nam, Hoàng Văn Thái và ông ở lại Việt Bắc, giúp đỡ địa phương xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, tổ chức sản xuất và ổn định cuộc sống của đồng bào các dân tộc.
Cuối tháng 9-1945, Bác Hồ điều ông về Hà Nội bổ sung cán bộ cho cơ quan Công an. Lúc đầu, ông giữ chức Phó Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ. Cuối tháng 2-1946, ông được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc Nha Công an (tương đương Bộ trưởng Công an). Nhiệm vụ của ngành Công an thời kỳ đó rất nặng nề. Chính quyền non trẻ của ta phải đương đầu với nhiều âm mưu xảo quyệt của thù trong, giặc ngoài. Ngày 19-12-1946, Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngành Công an vừa phải lo bảo vệ vùng tự do, nhất là an toàn khu (ATK), nơi có các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ, vừa tổ chức hoạt động ở vùng tạm chiếm.
Cuối tháng 12-1952, sau khi dự lớp chỉnh huấn, chỉnh Đảng do Trung ương tổ chức, ông tham gia Cải cách ruộng đất, là đội viên, ủy viên Đoàn ủy rồi Bí thư Đoàn ủy Cải cách ruộng đất.
Cuối năm 1955, ông trở về công tác trong ngành Công an, giữ chức Vụ trưởng Vụ trị an hành chính kiêm Cục trưởng Cục Biên phòng.
Cuối năm 1958, ông chuyển công tác về ngành Tòa án nhân dân, giữ chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam (1975), để củng cố chính quyền nhân dân, xây dựng bộ máy ngành Tòa án, ông được biệt phái vào Miền Nam công tác 3 năm liền. Năm 1978, ông được nghỉ hưu.
Hơn ba mươi năm công tác trong hai ngành chuyên chính của Đảng và Nhà nước, ông vừa làm vừa học với tất cả lương tâm và trách nhiệm của người Cộng sản. Mạnh dạn nhưng thận trọng, kiên quyết với kẻ thù nhưng hết lòng thương yêu đồng bào, đồng chí, ông luôn sáng suốt, tỉnh táo khi phải sử lý những tình huống phức tạp. Không để lọt một tên địch nhưng cũng không bắt oan, xử oan một người vô tội. Chí công vô tư, suốt đời giữ được tính liêm khiết, giản dị, hết lòng thương yêu, giúp đỡ mọi người. Đó là phương châm cho mọi hành động của ông.
Để ghi nhận công lao của ông với cách mạng, với đất nước, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định để một đường phố ở quận Hà Đông mang tên Lê Giản. Và ngày 20-8-2025, Ủy ban nhân dân phường Đại Mỗ đã tổ chức Lễ công bố quyết định và gắn biển tên phố Lê Giản. Tham dự buổi lễ có Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an Lương Tam Quang; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Bùi Thị Minh Hoài cùng các lãnh đạo thành phố Hà Nội, đại diện gia đình Cụ Lê Giản và đại diện Hội đồng Họ Tô Việt Nam.
Đối với Họ Tô Việt Nam, Cụ cũng có công lao lớn trong việc quy tụ dòng họ. Sau một thời gian cùng một số người Họ Tô có tâm huyết tích cực làm công tác chuẩn bị, ngày 3-8-1998, nhân Lễ giỗ lần thứ 819 Đức Tô Hiến Thành; tại đình Vạn Xuân xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, Cụ đã chủ trì buổi tọa đàm tìm về cội nguồn của hơn 150 đại biểu của 21 chi Họ Tô thuộc 12 tỉnh, thành phố ở Miền Bắc và Bắc Miền Trung. Hội nghị đã quyết định thành lập Ban liên lạc Họ Tô Việt Nam do Cụ Tô Gĩ làm Trưởng ban lâm thời.
Ngày 21-2-1999 (ngày mùng 6 Tết năm Kỷ Mão), tại nhà Cụ Tô Gĩ, số 8 Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội, Ban liên lạc gồm 26 thành viên đã họp phiên đầu tiên bầu Cụ Tô Gĩ là Trưởng ban danh dự, bầu ông Tô Tử Hạ làm Trưởng ban liên lạc. Hội nghị đã đề ra tiêu chí “Chắp nối dòng họ-Tìm về cội nguồn”.
Cụ mất ngày 18-10-2003, hưởng thọ 91 tuổi. Đông đảo bà con Họ Tô cùng Thường trực Ban liên lạc Họ Tô Việt Nam đã đến Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng kính viếng, tiễn biệt Cụ về nơi an nghỉ cuối cùng. Bức trướng của dòng họ viết đôi câu đối:
Bẩy ba tuổi Đảng, vì cách mạng lòng son dạ sắt.
Chín mốt tuổi đời, với Họ Tô nghĩa nặng tình sâu.
TÔ BỈNH
Ghi chú:Trong bài viết có sử dụng nhiều tư liệu của GS-TS Tô Linh, con trai Cụ Tô Gĩ
- Tô Ký (1919-1999): Nho tướng nghĩa hiệp thu phục giang hồ hảo hán
- Người Anh hùng bước ra từ trang sách
- ÔN LẠI THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ ĐẠO ĐỨC SÁNG NGỜI CỦA ĐỨC THÁI PHÓ TÔ HIẾN THÀNH
- Danh họa Tô Ngọc Vân: Một đời tài hoa, giản dị
- CỤ TIẾN SĨ TÔ TRÂN
- ĐẠI THẦN TÔ TRÂN VÀ BÀI THƠ THỰ LÝ ĐỊNH TƯỜNG TUẦN PHỦ TÔ TRÂN
- Bài phát biểu trong Lễ đón nhận Bằng công nhận Di tích lịch sử cấp tỉnh Đền thờ Tô Thế Huy – Tiến sĩ Nho học, danh nhân văn hóa
- CON GÁI ĐỨC TÔ HIẾN THÀNH NGUYÊN TỪ HOÀNG HẬU TÔ PHƯƠNG LAN
- Danh thần Tô Hiến Thành, nhận việc ký thác con côi trong sử ký Đại Việt
- Tô Thế Huy - người khơi dòng mạch khoa bảng ở Bình Trù
- Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam
- Lễ báo công truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND đồng chí Tô Quyền
- Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” và nhà thơ Lê Anh Xuân
- Thuỷ Tổ Họ Tô Việt Nam là ai?
- Đất nước và người mẹ trong thơ Tạ Hữu Yên
- ANH HÙNG “MÌN GẠT”
- VÀI NÉT VỀ QUAN HỆ DÒNG HỌ TRONG CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ HIỆN NAY.
- Ai soạn thảo “Bản thông cáo số 1” của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định ngày 30-4-1975?
- BÀI PHÁT BIỂU TẠI LỄ ĐÓN NHẬN BẰNG XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ ĐÌNH THUẦN LƯƠNG CỦA NHÀ SỬ HỌC LÊ VĂN LAN
- LỚP TRƯỞNG TÔ HIỆP NHỚ VỀ LỚP ĐỆ NHẤT B “ĐẶC BIỆT”
Đang online : 9
Hôm nay : 234
Tháng hiện tại : 41223
Tổng lượt truy cập : 3648641